Kế toán An Tâm - Kế toán An Tâm http://ketoanantam.com Kế toán lành nghề Thu, 19 Dec 2013 15:36:18 +0000 en-US hourly 1 http://wordpress.org/?v=3.8 Xử phạt các sai phạm hành chính thuế có gì mới? /xu-phat-cac-sai-pham-hanh-chinh-thue-co-gi-moi/ /xu-phat-cac-sai-pham-hanh-chinh-thue-co-gi-moi/#comments Thu, 19 Dec 2013 09:27:24 +0000 /?p=271 Có hiệu lực từ ngày 15/12, Nghị định số 129/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế thu hút sự quan tâm của dư luận.

 Nghị định số 129/2013/NĐ-CP đã có nhiều điều chỉnh để phù hợp với tình hình thực tế, đảm bảo đồng bộ với hệ thống pháp luật xử phạt vi phạm hành chính, Luật Quản lý thuế (sửa đổi) và hệ thống pháp luật Việt Nam. Đồng thời, giải quyết những tồn tại, hạn chế bất cập của các quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế hiện hành còn vướng mắc.

Thay đổi nhiều mức phạt vi phạm hành chính về thuế

Điểm đáng chú ý của Nghị định 129/2013/NĐ-CP là phân biệt mức phạt tiền giữa tổ chức và cá nhân có hành vi vi phạm thủ tục thuế và hành vi trốn thuế (mức phạt tiền đối với người nộp thuế là cá nhân, hộ gia đình bằng ½ mức phạt tiền đối với tổ chức). Điều chỉnh này sẽ khắc phục được một phần bất hợp lý về mức phạt tiền đối với cá nhân không quá cao so với số tiền thuế mà cá nhân phải nộp như thuế thu nhập cá nhân, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.

Áp dụng thống nhất một mức phạt tiền 20% đối với cá nhân, tổ chức có hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn.

Nếu như trước đây, mức phạt tối đa của khung phạt tiền gấp 10 lần mức phạt tối thiểu thì tại Nghị định số 129/2013/NĐ-CP khoảng cách chênh lệch giữa mức tối đa và mức tối thiểu của khung phạt tiền chỉ còn 2,5 lần, tránh áp dụng tùy tiện.

Đối với hành vi chậm nộp tiền thuế không xử phạt hành chính mà chuyển sang áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là nộp tiền chậm nộp tiền thuế theo tỷ lệ là 0,05% hoặc 0,07% 1 ngày trên số tiền chậm nộp thuế.

Điềm mới đáng lưu ý nữa là quy định về thời hạn truy thu. Theo đó, người nộp thuế có hành vi khai sai dẫn đến thiếu số thuế phải nộp, tăng số thuế được hoàn, tăng số tiền thuế được miễn giảm, hành vi trốn thuế thì thời hạn truy thu các khoản thuế bị truy thu, truy hoàn, trốn thuế, tiền chậm nộp thuế hoàn là 10 năm, trừ các trường  hợp người  nộp thuế không đăng ký thuế và trốn thuế thì thời hạn truy thu thuế không khống chế. Trước đây không khống chế thời hạn truy thu.

Về hình thức xử phạt, hình thức phạt cảnh cáo áp dụng đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế không nghiêm trọng, có tình tiết giảm nhẹ và theo quy định áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo.

Nghị định số 129/2013/NĐ-CP cũng đã bỏ quy định về hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về thuế.

Trường hợp khai sai người nộp thuế đã khai bổ sung hồ sơ khai thuế và đã nộp đủ số tiền thuế phải nộp trước thời điểm cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại trụ sở người nộp thuế thì sẽ không bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế.

Nghị định cũng không quy định xử phạt đối với hành vi vi phạm chế độ hoá đơn, chứng từ đối với hàng hoá vận chuyển trên đường, bởi việc xử phạt vi phạm hành vi này theo quy định riêng của Chính phủ.

Cũng theo Nghị định này, cá nhân bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế có quyền đề nghị miễn, giảm tiền phạt vi phạm hành chính về thuế mà số tiền phạt từ 3 triệu đồng trở lên trong trường hợp gặp khó khăn đặc biệt, đột xuất về kinh tế do thiên tai, hỏa hoạn, thảm họa, tai nạn, dịch bệnh, bệnh hiểm nghèo.

Mức miễn, giảm tiền phạt tối đa bằng số tiền phạt còn lại trong quyết định xử phạt và không quá giá trị tài sản, hàng hóa bị thiệt hại, chi phí chữa bệnh.

Phân biệt thẩm quyền xử phạt đối với cá nhân và tổ chức

Nghị định số 129/2013/NĐ-CP quy định thẩm quyền xử phạt đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính, phân biệt thẩm quyền xử phạt đối với cá nhân và tổ chức theo nguyên tắc thẩm quyền xử phạt đối với cá nhân bằng ½ thẩm quyền xử phạt đối với tổ chức, khống chế thẩm quyền xử phạt theo số tiền tuyệt đối.

Còn, thẩm quyền xử phạt đối với tổ chức, cá nhân có hành vi trốn thuế, hành vi khai thiếu thuế, hành vi không trích chuyển từ tài khoản của người nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan thuế thực hiện theo quy định của Luật Quản lý thuế (không khống chế theo số tiền tuyệt đối), cụ thể đối với tổ chức:

Công chức thuế có quyền xử phạt phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 1 triệu đồng đối với hành vi vi phạm hành chính về thuế.

Đối trưởng Đội thuế có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 5 triệu đồng đối với vi phạm thủ tục thuế;

Chi cục trưởng Chi cục Thuế có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 50 triệu đồng; Cục trưởng Cục Thuế có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 140 triệu đồng; Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 200 triệu đồng đối với vi phạm thủ tục thuế; phạt tiền đối với hành vi quy định tại Điều 10, 11, 12 Nghị định (hành vi khai sai dẫn đến thiếu số thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, hành vi trốn thuế, gian lận thuế, hành vi vi phạm của ngân hàng…); áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.

Đối với cá nhân các mức phạt nêu trên giảm bằng ½.

Linh hoạt áp dụng biện pháp cưỡng chế

Nội dung quy định về cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế tại Nghị định được căn cứ trên cơ sở Luật xử lý vi phạm hành chính và Luật quản lý thuế (sửa đổi) trong đó có những quy định mới đáng lưu ý, như thay đổi thứ tự biện pháp, bỏ một số biện pháp cưỡng chế…

Chẳng hạn, thay đổi thứ tự biện pháp cưỡng chế: biện pháp cưỡng chế thông báo hoá đơn không còn giá trị sử dụng là biện pháp cưỡng chế thứ ba áp dụng sau biện pháp cưỡng chế khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập.

Biện pháp cưỡng chế thông báo hoá đơn không còn giá trị sử dụng được áp dụng để thay thế cho biện pháp cưỡng chế thu hồi mã số thuế; đình chỉ việc sử dụng hoá đơn trước đây.

Bỏ biện pháp cưỡng chế tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về thuế.

Và trong thời gian được nộp dần tiền nợ thuế, tiền phạt thì chưa áp dụng biện pháp cưỡng chế.

Trường hợp người nộp thuế nợ tiền thuế, tiền chậm nộp tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền phạt có hành vi bỏ trốn, tẩu tán tài sản thì tùy tình hình để linh hoạt áp dụng biện pháp cưỡng chế.

Nghị định cũng quy định, trong trường hợp cần thiết phải phong toả tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế thì quyết định cưỡng chế phải ghi rõ phong toả một phần hoặc toàn bộ số tiền trên tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế (khi áp dụng biện pháp cưỡng chế trích tiền từ tài khoản) tại Điều 27.

Về định giá tài sản kê biên theo Điều 43, nếu tài sản kê biên có giá trị dưới 1 triệu đồng nếu các bên không có thoả thuận thì người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế có trách nhiệm định giá.

Trường hợp tài sản kê biên trị giá từ 1 triệu đồng trở lên thuộc loại khó định giá thì người có ra quyết định cưỡng chế đề nghị cơ quan có thẩm quyền thành lập hội đồng định giá.

Nghị định số 129/2013/NĐ-CP được ban hành là một bước nhằm thực hiện cải cách thủ tục hành chính trong xử phạt vi phạm hành chính; đảm bảo tính công khai, minh bạch, thống nhất, công bằng trong áp dụng pháp luật. Nghị định cũng góp phần tăng cường tính hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý hành chính thuế nhằm chống thất thu, giảm nợ thuế, thu đúng, đủ, kịp thời tiền thuế vào Ngân sách Nhà nước./.

Theo vtca.vn
]]>
/xu-phat-cac-sai-pham-hanh-chinh-thue-co-gi-moi/feed/ 0
Sử dụng hóa đơn điện tử: Hiệu quả thiết thực cho DN /su-dung-hoa-don-dien-tu-hieu-qua-thiet-thuc-cho-dn/ /su-dung-hoa-don-dien-tu-hieu-qua-thiet-thuc-cho-dn/#comments Thu, 19 Dec 2013 07:57:08 +0000 /?p=263 (DĐDN) – Việc triển khai thí điểm hóa đơn điện tử bước đầu mang lại nhiều lợi ích xã hội, hiệu quả thiết thực về thời gian và chi phí cho DN, phù hợp với xu thế phát triển và hội nhập quốc tế.

Việc sử dụng hóa đơn điện tử góp phần hiện đại hoá công tác hạch toán kế toán, quản trị DN, phù hợp hơn với xu thế kinh doanh ngày càng phát triển trên thị trường quốc tế hiện nay. Khách hàng có thể truy cập vào website của bên bán để xem và tải hóa đơn khi cần do đó khách hàng không phải lưu trữ, bảo quản, tránh rủi ro mất hóa đơn.

Đã có hành lang pháp lý

Để tạo hành lang pháp lý và giúp các DN VN thực hiện sử dụng hoá đơn điện tử trong hoạt động kinh doanh, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 về hoá đơn bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, trong đó quy định thêm hình thức hoá đơn mới là hoá đơn điện tử. Bộ Tài chính cũng đã ban hành Thông tư số 32/2011/TT-BTC ngày 14/3/2011 hướng dẫn về khởi tạo, phát hành và sử dụng hoá đơn điện tử bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ có hiệu lực từ ngày 1/5/2011. Theo đó, hoá đơn điện tử là tập hợp các thông điệp dữ liệu điện tử về bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, được khởi tạo, lập, gửi, nhận, lưu trữ và quản lý bằng phương tiện điện tử.

Hoá đơn điện tử được khởi tạo, lập, xử lý trên hệ thống máy tính của tổ chức đã được cấp mã số thuế khi bán hàng hoá, dịch vụ và được lưu trữ trên máy tính của các bên theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử. Hóa đơn đã lập dưới dạng giấy nhưng được xử lý, truyền hoặc lưu trữ bằng phương tiện điện tử không phải là hóa đơn điện tử.

Tạo thuận lợi cho triển khai thực tế

Để chuẩn bị cho việc áp dụng rộng rãi hình thức hoá đơn điện tử, Tổng cục Thuế đã lựa chọn một số lĩnh vực, DN có điều kiện nhất định về hạ tầng công nghệ thông tin, đã thực hiện một số hình thức giao dịch điện tử, thực hiện khai thuế qua mạng internet và đang sử dụng khối lượng hóa đơn giấy lớn thuộc các lĩnh vực viễn thông, hàng không, điện lực, ngân hàng để triển khai thí điểm hóa đơn điện tử. Theo đó, Tập đoàn Điện lực VN triển khai hóa đơn điện tử trong hoạt động bán điện, TCty Hàng không VN triển khai hóa đơn điện tử trong hoạt động vận chuyển hàng không và Tập đoàn Bưu chính Viễn thông VN triển khai hóa đơn điện tử trong sử dụng dịch vụ viễn thông và CNTT cước trả sau.

Khách hàng có thể truy cập vào website của bên bán để xem và tải hóa đơn khi cần.

EVN là DN đi đầu trong việc triển khai hóa đơn điện tử trong số các DN được lựa chọn thí điểm. Tập đoàn đã chọn Cty Điện lực Sài Gòn thuộc TCty Điện lực TP.HCM thực hiện triển khai thí điểm trước khi tiến hành triển khai rộng rãi. Từ ngày 1/12/2012, Cty Điện lực Sài Gòn vận hành chính thức hệ thống hóa đơn điện tử với số lượng khách hàng là 97.000 khách hàng. Thay vì nhận hoá đơn giấy, các khách hàng sử dụng điện sau khi thanh toán tiền điện sẽ nhận được biên nhận thanh toán. Khách hàng có thể tra cứu, xem, tải thông tin chi tiết hoá đơn tiền điện trên trang web của Cty hoặc qua địa chỉ email của khách hàng. Đến tháng 7/2013, TCty Điện lực TP.HCM tiếp tục triển khai thí điểm hóa đơn điện tử tại 2 Cty Điện lực gồm Cty Điện lực Chợ lớn và Cty Điện lực Tân Thuận cho khoảng hơn 100.000 khách hàng.

TCty Hàng không VN sử dụng vé điện tử trong vận chuyển hành khách xuất từ website thương mại của Vietnam Airlines. Hiện nay, TCty đang sử dụng vé điện tử trên toàn hệ thống, tạo thuận lợi cho khách hàng tham gia vận chuyển, tiết kiệm chi phí và phù hợp với thông lệ quốc tế.

Cty Điện toán và truyền số liệu (VDC) thuộc Tập đoàn Bưu chính Viễn thông VN (VNPT) thực hiện triển khai thí điểm xuất hóa đơn điện tử cho khách hàng sử dụng dịch vụ viễn thông – CNTT cước trả sau tại Trung tâm dịch vụ giá trị gia tăng (VDCOnline) từ 1/4/2013. Bước đầu, hệ thống vận hành ổn định, VDC đã xuất hóa đơn điện tử thành công cho các khách hàng sử dụng dịch vụ. Hiện nay, VDC đang tiếp tục triển khai thử nghiệm giải pháp hóa đơn điện tử tại Trung tâm Điện toán và truyền số liệu khu vực I (triển khai tại Hà Nội), Trung tâm Điện toán và truyền số liệu khu vực II (triển khai tại TP HCM), Trung tâm Điện toán và truyền số liệu khu vực III (triển khai tại Đà Nẵng) và Trung tâm Công nghệ thông tin VDCIT.

Nguồn: dddn.com

]]>
/su-dung-hoa-don-dien-tu-hieu-qua-thiet-thuc-cho-dn/feed/ 0
Nghi dinh 209 về thuế GTGT (Áp dụng 1/1/2014) /nghi-dinh-209-ve-thue-gtgt-ap-dung-112014/ /nghi-dinh-209-ve-thue-gtgt-ap-dung-112014/#comments Thu, 19 Dec 2013 07:42:45 +0000 /?p=260 Nghị định 209 về thuế GTGT (Áp dụng 1/1/2014)

]]>
/nghi-dinh-209-ve-thue-gtgt-ap-dung-112014/feed/ 0
Hướng dẫn thực hiện mức lương tối thiểu vùng (Áp dụng 1/1/2014) /huong-dan-thuc-hien-muc-luong-toi-thieu-vung-ap-dung-112014/ /huong-dan-thuc-hien-muc-luong-toi-thieu-vung-ap-dung-112014/#comments Thu, 19 Dec 2013 04:36:07 +0000 /?p=254 (DĐDN) – Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội vừa ban hành Thông tư số 33/2013/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan, tổ chức có thuê mướn lao động.

Thông tư nêu rõ, mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định là mức lương thấp nhất làm cơ sở để doanh nghiệp và người lao động thỏa thuận tiền lương trả cho người lao động, nhưng phải bảo đảm mức lương tính theo tháng trả cho người lao động chưa qua đào tạo làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường, bảo đảm đủ thời giờ làm việc bình thường trong tháng và hoàn thành định mức lao động hoặc công việc đã thỏa thuận không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định. Cụ thể, Vùng I: 2.700.000 đồng/tháng; vùng II: 2.400.000 đồng/tháng; vùng III: 2.100.000 đồng/tháng; vùng IV: 1.900.000 đồng/tháng.

Mức lương thấp nhất trả cho người lao động đã qua học nghề phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng.

Mức lương tối thiểu vùng trên dùng làm căn cứ để xác định, điều chỉnh các mức lương trong thang lương, bảng lương của doanh nghiệp và mức lương ghi trong hợp đồng lao động.

Thông tư cũng quy định rõ, khi áp dụng các quy định tại Thông tư này, doanh nghiệp không được xóa bỏ hoặc cắt giảm các chế độ tiền lương khi người lao động làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, tiền lương hoặc phụ cấp làm việc trong điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại, chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật đối với các chức danh nghề nặng nhọc, độc hại và các chế độ khác theo quy định của pháp luật.

Các khoản phụ cấp, trợ cấp, tiền thưởng do doanh nghiệp quy định thì thực hiện theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động tập thể hoặc trong quy chế của doanh nghiệp.

Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/2/1014. Mức lương tối thiểu vùng được áp dụng từ ngày 1/1/2014.

Nguồn: vnexpress.net

]]>
/huong-dan-thuc-hien-muc-luong-toi-thieu-vung-ap-dung-112014/feed/ 0
Bỏ quy định giới hạn 6 tháng đối với kế khai thuế GTGT đầu vào (Áp dụng từ 1/1/2014) /bo-quy-dinh-gioi-han-6-thang-doi-voi-ke-khai-thue-gtgt-dau-vao-ap-dung-tu-112014/ /bo-quy-dinh-gioi-han-6-thang-doi-voi-ke-khai-thue-gtgt-dau-vao-ap-dung-tu-112014/#comments Sun, 15 Dec 2013 16:11:47 +0000 /?p=238 Theo như Điểm D khoản 1 Điều 12 của Luật số 31/2013/QH13 ngày 19 tháng 6 năm 2013 có đề cập như sau:

Trường hợp cơ sở kinh doanh phát hiện số thuế giá trị gia tăng đầu vào khi kê khai, khấu trừ bị sai sót thì được kê khai, khấu trừ bổ sung trước khi cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại trụ sở người nộp thuế

=>Bỏ quy định giới hạn không quá 6 tháng đối với kê khai thuế GTGT đầu vào: DN được kê khai bổ sung miễn là trước khi cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế. và Đk hoàn thuế 

Nguồn: Luật số 31/2013/QH13 Ngày 19 tháng 6 năm 2013

]]>
/bo-quy-dinh-gioi-han-6-thang-doi-voi-ke-khai-thue-gtgt-dau-vao-ap-dung-tu-112014/feed/ 0